Posts Tagged ‘xã hội’

Bài học từ những khu ổ chuột (phần 1)
Nguồn: kienviet.net

Mô hình #1: Napoli, quartieri Spagnoli (ảnh:flickr)

Trong khi cách quan sát chủ đạo ở những khu nhà ổ chuột được miêu tả là nơi cần thoát khỏi và phá hủy càng sớm càng tốt thì ngày càng có nhiều người lại nhìn những khu nhà ở chuột này theo một góc nhìn khác.

Cái nhìn đầu tiên là từ một vài kiến trúc sư tham gia vào những dự án quy hoạch lại thành phố, những người này đã bắt đầu tích hợp một vài yếu tố của các khu nhà ổ chuột vào dự án của họ. Một vài đặc điểm thường xuyên là:

* sân trong và đường đi hẹp
* phân chia tòa nhà thành những khối nhỏ
* sử dụng những màu sắc và chất liệu khác nhau trong cùng một tòa nhà
Mô hình #2: Atrani (hình ảnh: flickr)
Mario Fiorentino, Corviale, Rome. sân trong. (ảnh:  flickr)
Moshe Safdie, Nhà số 67, Montreal (ảnh: wikipedia)
Frank Gehry, Trung tâm MIT Stata (ảnh: wikipedia)
NL Architects, Dự án Trung tâm Nghệ thuật biểu diễn Đài Bắc
Akihisa Hirata, Tòa nhà thương mại Daikanyama, Tokyo.

Kết quả của phương pháp này có thể rất thú vị khi quan sát dựa trên quan điểm mĩ học và chắc chắn là một trong những sự phát triển lý thú nhất, nhưng dường như đã bỏ sót điểm này. Trong khi những khu nhà ổ chuột thường được xây dựng mà không có sự trợ giúp của bất cứ một thiết bị kỹ thuật nào, ở khu vực này không có sự lặp lại về kiến trúc bởi sự bắt chước không thể tồn tại mà không có những công cụ thiết kế hiện đại nhất cùng với sự hỗ trợ của khoa học kỹ thuật. Chính vì vậy mà những khu nhà ổ chuột luôn có sức hấp dẫn riêng mà những dự án xây dựng sau này dù thế nào cũng không thể có được.

Một phương pháp cơ bản được Jane Jacobs đề cập đến trong cuốn sách “The Life and Death of Great American Cities”“Cities and the Wealth of Nations“ của bà: Dù những khu nhà ổ chuột nhìn bẩn thỉu và lộn xộn nhưng chúng cũng là một trong những nơi tổ chức cuộc sống hiệu quả nhất của thành phố: con người có thể sống gần nhau và khả năng tình cờ gặp nhau tăng tối đa. Tổ chức xã hội tự phát sinh và toàn bộ hệ thống sử dụng những nguồn tài nguyên sẵn có một cách hiệu quả nhất.

Nhưng dù có tất cả những đặc điểm tốt này, những khu nhà ổ chuột vẫn là những nơi bẩn thỉu và không lành mạnh, thiếu vệ sinh và những dịch vụ xã hội. Bằng cách nào chúng ta có thể biến chúng thành một nơi lành mạnh về cả vật chất và tinh thần ?

Robert Neuwirth đã giành 2 năm ở những khu nhà ổ chuột để hiểu hơn những động lực bên trong chúng và đã có đóng góp đáng kể. Đoạn phim dưới đây cho thấy kết  quả mà những yêu cầu của ông đã đem lại.

(Slide mà Robert Neuwirth trình bày trong buổi nói chuyện trên)

Theo Neuwirth, vấn đề chính của những khu nhà ổ chuột không phải là mật độ người cư trú hay thiếu cơ sở hạ tầng vệ sinh. Vấn đề chính là thiếu sự trao đổi thông tin giữa những người dân sống ở khu ổ chuột và chính quyền địa phương do vậy mà gây cản trở tất cả việc đầu tư dài hạn: mối quan hệ tạm thời dẫn đến những nơi ở tạm thời. Với thỏa thuận mới giữa chính quyền và cư dân ở  khu nhà ổ chuột, có thể cải thiện điều kiện của khu vực này và thậm chí biến chúng trở thành những địa điểm hấp dẫn, giống như những thành phố thời Trung cổ đã làm.

Siena (ảnh: flickr)

Một mẫu dự án làm theo quy tắc này là Quinta Monroy, của công ty Chile Elemental. Thay vì đưa ra một giải pháp có sẵn, dự án này cung cấp một kết cấu khung cơ bản cho tòa nhà, từ đó những người dân đến sống có thể tiếp tục tự hoàn thiện dần thành một ngôi nhà hoàn chỉnh.

Quinta Monroy, Elemental
Advertisements

Tình cờ đọc được bài viết này trên kienviet.net, sướng quá vì nhớ lại đồ án tốt nghiệp kiến trúc ngày xưa. Lúc đó, Hội đồng cứ cười vì mình hùng hổ thuyết minh ý tưởng thiết kế không gian cụm chung cư trong đồ án là từ những khu ổ chuột dọc kênh rạch TP.

Đó là bố cục không gian tự do, cao thấp xen lẫn, không nhà nào giống nhà nào, không cửa nào giống cửa nào, tường vách do mỗi hộ tự lắp ghép, cấu trúc giao thông đan xen nhiều chiều, nhiều tầng như những mảnh ván ghép thành cầu dẫu gập ghềnh, thành chỗ chơi con trẻ, chỗ ngoại ngồi rửa rau, nơi bà con gặp nhau, dăm ba câu qua lại hỏi thăm nhau cuối ngày…

Sinh viên hồi ấy lãng mạn, chỉ cảm và làm thế thôi; nay mới có dịp đọc được một khảo luận thú vị thế này. Xin phép được đăng lại.

Bài học từ những khu ổ chuột (phần 1)

Nguồn: kienviet.net

“Slumdog Millionaire” (Triệu phú khu ổ chuột) là bộ phim của năm.  Chuyện kể về một chàng thanh niên trẻ đến từ khu ổ chuột của Mumbai đã tự thay đổi số phận của   mình thông qua trò chơi “Ai là triệu phú” (Who wants to be a Millionaire). Bộ phim đã thu hút &  chiếm được cảm tình của công chúng và cả của hội đồng giám khảo giải Oscars

Đồng thời, bộ phim còn tạo nên một cuộc tranh luận về những khu nhà  ở chuột và cái cách mà bộ phim miêu tả khu vực này. Bối cảnh chủ đạo của bộ phim “Triệu phú khu   ổ chuột” là những khu nhà ổ chuột, được các nhà văn như Daniel Defoe hay Charles Dickens miêu   tả vào thế kỉ XIX là những nơi tối tăm, bẩn thỉu với những con người bị nhốt trong những căn phòng   không có trang thiết bị cấp nước. Ở những khu ổ chuột thường xuyên xảy ra tụ tập phá rối nhưng   cảnh sát khó có thể xâm nhập vào, đây là nơi hoàn hảo cho những tên tội phạm ẩn nấp và lên kế  hoạch cho những âm mưu nguy hiểm cho xã hội. Đồng thời khu vực này cũng dễ trở thành điểm   khởi đầu của các loại dịch bệnh.

Lối đi Dharavi, (hình ảnh:  Flickr)
Khu ổ chuột Glasgow,  1871(hình ảnh: Wikipedia)

Đây là tầm nhìn dọn đường cho tất cả những dự án quy hoạch lại   thành phố: dân cư trong những khu ổ chuột, bị số phận kìm hãm trong đó, cần được trợ giúp thông   qua các hoạt động từ thiện, sự can thiệp của công chúng, hay có thể qua một chương trình ti vi.  Việc quy hoạch lại khu vực này sẽ cải thiện môi trường sống, những con đường lớn hơn sẽ  giúp   cảnh sát kiểm soát tốt hơn và mọi người có thể sử dụng nước và điện.

Một trong những thành phố đầu tiên thực thi chính sách quy hoạch lại   thành phố là Paris. Từ năm 1852 đến năm 1970, dưới sự chỉ đạo của Eugène Haussman trong dự án Đại lộ  chạy xuyên qua thành phố. Dọc theo những đại lộ là hệ thống cấp nước, cống rãnh thoát nước phục   vụ cho nhu cầu sinh họat của dân cư. Đồng thời hệ thống giao thông công cộng được bố trí và xây   dựng dọc theo các trục đường nhờ vậy mà cuối cùng cảnh sát đã có thể đi tuần tra quanh thành   phố.

Paris quartier des Halles.  Các đại lộ cắt qua vùng đô thị đã có sẵn (hình ảnh: Microsoft Virtual Earth)
Paris: một khu phố  pre-Haussmann điển hình. Chú ý đến tỉ số chiều cao tòa nhà/đường, giống với một khu phố ở  Dharavi hay Glasgow.  (Rue Mouffetard, từ Flickr)
Paris, đại lộ Haussmann. (Ảnh: flickr)

Ở Rome, một chính sách tương tự được thực hiện từ năm 1925 đến   năm 1950. Những con đường mới được mở qua trung tâm đã khiến nhiều người dân Rome phải di   rời ra ngoại ô thành phố. Những sự can thiệp này đã đem lại những thay đổi rõ rệt cho thành   phố

Rome, Trastevere. Một công trình đô thị cổ. (ảnh: flickr)
Rome. Một khu vực đã bị hư hại một nửa ở trung tâm thành phố, gần Via della Conciliazione. (ảnh:  flickr)
Rome, via della Conciliazione. hoàn thành năm 1950, nó là đại lộ cuối cùng ở Rome cắt qua trung   tâm thành phố. (ảnh: flickr)
Rome, Il Trullo: một Borgata điển hình. (ảnh: Microsoft Virtual Earth)

Một làn sóng quy hoạch tràn vào thành phố lần thứ hai diễn ra sau   chiến tranh thế giới lần thứ II. Mức sống cao hơn và các dự án trở nên cơ bản hơn. Tuyên ngôn của   họ là Dự án Voisin của Le Corbusie(1925), đề xuất việc phá hủy hầu hết trung tâm Paris (được   xem như là một khu nhà ổ chuột lớn) và thay thế nó với một công trình đô thị hoàn toàn mới, tạo   thành từ những tòa nhà cao tầng và những vườn hoa. Và hầu hết mọi lần, những người bị buộc di   dời trong những dự án lần này cũng chính là những người bị ảnh hưởng bới đợt quy hoạch đầu   tiên.

Dự án Voisin của Le Corbusier (hình ảnh: flickr)
Drancy, một trong những hình mẫu đầu tiên của dự án Voisin, được miêu tả là “tòa nhà cao tầng đầu   tiên của Paris (ảnh: wikipedia)
Roma, borgata của Tiburtino III, vào năm 1935 (ảnh: Wikipedia)
Vẫn địa điểm đó vào năm 2008. Rất ít tòa nhà tồn tại được sau việc quy hoạch lại vào thập niên 80.  Tất cả những tòa nhà mới tuân theo tiêu chuẩn của Le Corbusier . (ảnh: Microsoft Virtual   Earth)

Phải chăng những khu nhà ở chuột là nơi tồi tệ và những thì xã hội có  thể làm chỉ là phá đi hoặc “làm mới lại”? Liệu việc thoát khỏi khu vực tăm tối đó có phải là niềm hy   vọng duy nhất cho người dân? Có phải khu ổ chuột chỉ là nguồn gốc của nghèo đói, bệnh tật, hay   còn có gì trong đó, thậm chí là liệu chúng ta có thể học được điều gì từ đó?

* Borgata : trong tiếng Italia, Borgata là từ dùng để chỉ 1 ngôi làng   nhỏ.

Xem tiếp: Bài học từ những khu ổ chuột (phần 2).

Nghe ngồ ngộ

Đang chủ trì thiết kế một resort nghỉ dưỡng cho người lớn tuổi ở Long Thành.
Dự án còn mênh mông phía trước (đường dài mỏi chân, có lúc nào lại nhớ lời Phật “Quay đầu là bờ”, úi chà!).

Chủ đầu tư là một nhóm gồm nhiều doanh nhân, trí thức led bởi một vị sư quản trị một ngôi chùa rất lớn ở TP. Nhiều năm qua nhóm đều đặn tổ chức các hoạt động thiện nguyện vì người nghèo, người bệnh tật tại trang trại/tịnh thất – địa điểm đang triển khai thiết kế khu nghỉ dưỡng.

Tối nay trình bày phương án ý tưởng cho nhóm chủ dự án tại Chùa. Hôm trước đã đi một lần nhưng không để ý, nay (vừa từ toilet ra, nhẹ người nên sáng mắt) chợt thấy hàng chữ ngay đầu cầu thang, đại khái “… dành riêng cho chùa, cấm người ngoài.” Cửa chùa ngày nay chắc khó rộng mở nữa rồi (nhiều giang hồ hiểm ác quá); nhưng mà “cấm” thì… uh, nghe ngồ ngộ.

Trình bày tại Trai đường của Chùa. Phòng như phòng họp, trần cao thoáng. Có bức tường trống để làm màn chiếu, kẹt cái tường màu xanh – chà. Không sao, tip of the day: chỉnh RGB color của máy chiếu, giảm độ Blue là ok ngay, màu sắc ấm áp. Bàn họp (hay ăn, “trai đường” là nhà ăn thì phải) dài, nhiều ghế. Ngồi từ hàng ghế sau sát tường mới thấy, sau lưng 1 số ghế có dán nhãn “Đại đức…” À, thì ra cũng có “ghế VIP”, ngồ ngộ.

Thầy là người trí thức hiện đại, giảng dạy nhiều nên hòa nhập với đời. Thầy tự lái xe hơi (chơi xe VW cũ mới oách), ăn phômai sợi xông khói, xài 2 con dế (một con chụp hình ngon, một con cùi bắp để backup!), làm thơ viết sách… Thầy là “lãnh tụ tinh thần” của nhóm chủ dự án (tạm gọi vậy, tuy nghe “thuật ngữ” này hao hao Mohammed). Nên Thầy hay nói đại khái “tôi là sếp…” Nghe ngồ ngộ.

Dự án được quyết định mở rộng gấp 3 quy mô ban đầu. Trong đó có phần đất khá lớn của một ngôi chùa kế cạnh. Về việc đề nghị bên chùa đó góp đất, Thầy phẩy nhẹ: “…bên đó họ phải cần mình…” Nghe cũng ngồ ngộ.

Chậc chậc.
Ngố ngô
Ngồ ngố
Ngồ
Ngộ.